Hà Nội (TTXVN) - Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Dệt may Việt Nam, ông Lê Quốc Ân, khẳng định sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, ngành dệt may sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, song cũng sẽ gặp không ít khó khăn, mà lớn nhất là nguy cơ mất thị trường Mỹ - thị trường hiện chiếm 50% hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam.
Trả lời phỏng vấn của TTXVN, ông Lê Quốc Ân cho biết cái được đầu tiên khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO là ngành dệt may sẽ không bị áp dụng chế độ hạn ngạch đối với thị trường Mỹ. Ngành cũng sẽ được đối xử bình đẳng ở nhiều thị trường. Hạ tầng cơ sở và cả nguồn nhân lực cũng sẽ được cải thiện bởi dòng đầu tư sẽ đổ vào Việt Nam mạnh hơn, trong đó có dệt may.
Tuy nhiên, cái mất của ngành dệt may cũng không phải là ít. Thứ nhất là hàng rào bảo hộ tại thị trường nội địa sẽ không còn. Toàn bộ thuế nhập khẩu hiện nay (đối với sản phẩm may mặc là 50%, sản phẩm sợi là 20% và sản phẩm vải là 40%) sẽ phải giảm xuống mức thấp, khoảng từ 10-15%, là mức chung của các thành viên WTO. Như vậy, sản phẩm dệt may Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với hàng dệt may nhập khẩu ngay tại thị trường nội địa.
Ông Lê Quốc Ân cũng thừa nhận khó khăn lớn nhất đối với ngành dệt may hiện nay là để mất thị trường Mỹ. Để Quốc hội Mỹ chấp thuận thông qua việc áp dụng Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn đối với Việt Nam (PNTR), Chính phủ Mỹ đã cam kết sẽ áp dụng chế độ theo dõi đặc biệt đối với ngành dệt may Việt Nam và áp dụng biện pháp chống bán phá giá.
Tất cả các nhà nhập khẩu Mỹ cho rằng việc áp dụng biện pháp này sẽ gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của họ, bởi họ không thể lường trước được khi nào sẽ bị tăng thuế. Điều này đồng nghĩa với việc nhiều nhà nhập khẩu Mỹ sẽ quay lưng lại với hàng dệt may Việt Nam và lựa chọn một đối tác làm ăn khác ít bị rủi ro hơn.
Theo ông Ân, nhiều nhà nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam ở Mỹ đang chuyển hướng đầu tư và đơn hàng sang các nước khác. "Theo dự báo trước đây, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may sẽ tăng 15-20%/năm, nhưng nếu Mỹ áp dụng chế độ theo dõi đặc biệt đối với ngành dệt may Việt Nam và áp dụng biện pháp chống bán phá giá, thì mức tăng chỉ còn khoảng 5-7%/năm", ông Ân nhấn mạnh.
Hiện ngành dệt may có khoảng 2 triệu lao động đang làm việc và việc Mỹ áp dụng chế độ theo dõi đặc biệt đối với ngành dệt may sẽ gây khó khăn cho người lao động. Theo ông Lê Quốc Ân, có thể số lao động ngành dệt may chưa bị giảm đi trong năm 2007 vì Mỹ mới bắt đầu áp dụng chế độ theo dõi này, nhưng từ năm 2008 trở đi, mức độ ảnh hưởng sẽ tăng cao.
Để hạn chế ảnh hưởng bất lợi từ việc Mỹ áp dụng chế độ theo dõi đặc biệt, ngành dệt may dự kiến sẽ mở rộng xuất khẩu sang các thị trường khác, đồng thời chú trọng nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm, đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu ngay tại thị trường nội địa.
Riêng đối với thị trường Mỹ, ngành sẽ coi trọng điều tiết, kiểm soát cả về số lượng, chủng loại và giá cả hàng hoá xuất sang thị trường này, đồng thời tiếp tục vận động chính quyền Mỹ sớm chấm dứt chế độ theo dõi đặc biệt đối với ngành dệt may Việt Nam cũng như không áp dụng biện pháp chống bán phá giá./. |