Hà Nội (TTXVN) - Nhiều chuyên gia trong ngành viễn thông cho rằng, việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) sẽ là cơ hội rất tốt đối với các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam, nhưng cũng đặt các doanh nghiệp này đứng trước sự cạnh tranh quyết liệt hơn.
Để chuẩn bị đón nhận cơ hội này, theo Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông Đỗ Trung Tá, các doanh nghiệp viễn thông-công nghệ thông tin Việt Nam cần chú trọng đến đào tạo nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao; tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ và hợp tác với các đối tác nước ngoài để chuyển giao công nghệ; và nâng cao chất lượng dịch vụ và phục vụ.
Cũng theo Bộ trưởng Tá, thời gian tới, các doanh nghiệp viễn thông, Internet, nhất là các doanh nghiệp mới (ngoài Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam) cần nhanh chóng xây dựng, triển khai mạng lưới, cung cấp dịch vụ viễn thông, internet nhằm tiến tới mục tiêu vào năm 2010 có thể chiếm tới 40%-50% thị phần, đồng thời tạo môi trường cạnh tranh dịch vụ viễn thông, internet lành mạnh.
Trong những năm qua, thị trường viễn thông-công nghệ thông tin Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, với mức tăng trưởng 25% hàng năm và được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển viễn thông vào hàng cao trên thế giới và là một thị trường đầy tiềm năng.
Từ một ngành độc quyền, mang tính phục vụ là chủ yếu, ngành bưu chính viễn thông đã bước đầu hình thành một thị trường dịch vụ bưu chính, viễn thông và Internet sôi động. Ngoài Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, hiện Việt Nam còn có 6 doanh nghiệp nhà nước được cấp phép kinh doanh hạ tầng mạng viễn thông và hàng trăm doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh doanh các dịch vụ Internet và Công nghệ thông tin (CNTT).
Hiện nay, tổng số máy điện thoại trên cả nước đạt trên 22,3 triệu máy, trong đó trên một nửa là thuê bao di động, đạt mật độ 26,53 máy/100 dân, cao hơn 3,5 lần so với chỉ tiêu đề ra cho năm 2005 là 7-8 máy/100 dân; 100% số xã đã có điện thoại. Mạng thông tin di động đã phủ sóng 64/64 tỉnh, thành phố trên cả nước. Đặc biệt một số xã vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo cũng đã được phủ sóng điện thoại di động.
Mạng Internet đạt gần 3,9 triệu thuê bao với 14 triệu người sử dụng, chiếm khoảng 17% dân số, đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN sau Singapore, Malaysia và Brunei. Các đường truyền và tốc độ Internet không ngừng được mở rộng và nâng cao cùng với việc triển khai cung cấp các dịch vụ .
Với trên 6.000 kênh liên lạc quốc tế hiện có, Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu về cung cấp dịch vụ viễn thông quốc tế với chất lượng cao. Ngoài ra, viễn thông Việt Nam cũng luôn nỗ lực giảm giá dịch vụ, sau nhiều lần giảm cước, các dịch vụ viễn thông Việt Nam đã ngang bằng hoặc thấp hơn các nước trong khu vực.
Cùng với việc đầu tư phát triển mạng lưới, đa dạng hóa dịch vụ, thời gian qua, ngành bưu chính viễn thông Việt Nam cũng đặc biệt chú trọng phát triển mạnh lĩnh vực công nghệ thông tin. Nhiều sản phẩm phần mềm đã được ứng dụng, từ phục vụ trong quản trị doanh nghiệp, quản lý công văn, hệ thống tài chính...cho đến quản lý dịch vụ giá trị gia tăng.
Công nghệ thông tin ngày được áp dụng rộng rãi, nhất là trong lĩnh vực giáo dục và y tế. Hiện có gần 100% các trường đại học, cao đẳng đã thực hiện kết nối internet bằng nhiều hình thức khác nhau; nhiều bệnh viện cơ sở đã ứng dụng CNTT vào phục vụ chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân./. |