Hà Nội (TTXVN) - Các khu chế xuất (KCX), khu công nghiệp (KCN) của Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức, vì theo cam kết khi gia nhập WTO, một số trợ cấp, ưu đãi để phát triển các khu này sẽ bị bãi bỏ.
Mở rộng quan niệm về khu công nghiệp
Theo quan niệm thông thường, KCN là khu vực có tính chất độc lập trong đó có các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng hoá và thực hiện các hoạt động dịch vụ và có chế độ quản lý riêng. KCX là khu chuyên sản xuất hàng cho xuất khẩu, ở đó áp dụng nhiều biện pháp ưu đãi như miễn thuế (xuất-nhập khẩu, thuế tài sản...) và tự do mua bán.
Tuy nhiên, trong giai đoạn toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế với sự chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và kinh tế tri thức, quan niệm về KCN được mở rộng. Các giao dịch kinh tế không phải chỉ điều chỉnh bằng các quy định pháp lý trong nước mà còn bằng cả các quy định pháp lý quốc tế đặc biệt là những nguyên tắc của WTO. WTO cho phép thành lập các KCN và KCX với những ưu đãi không được trái với những nguyên tắc điều chỉnh của WTO. Quá trình duy trì những ưu đãi này thường gắn với quá trình đàm phán giữa các bên và sau khi đã trở thành thành viên chính thức, các nước thành viên phải sửa đổi các ưu đãi “nổi trội” này để phù hợp với những nguyên tắc tự do, minh bạch và công bằng cũng như các thông lệ của WTO.
Thu hẹp đặc lợi của khu công nghiệp
Đến cuối tháng 4/2006, cả nước đã có 135 khu công nghiệp được thành lập với diện tích đất tự nhiên là 27.748ha. Trong số này có 81 khu công nghiệp đang vận hành có tổng diện tích đất tự nhiên 17.705ha.
Tại các KCN và KCX, hầu hết những ưu đãi trước đây dành cho các doanh nghiệp đều dưới hình thức miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong KCN có thể được miễn thuế nhập khẩu đối với trang thiết bị, máy móc và các phương tiện vận tải chuyên dụng (bao gồm cả phụ tùng và linh kiện) phục vụ cho sự hình thành, mở rộng hay cải tạo dự án. Nguyên vật liệu và phụ tùng sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu phải chịu thuế nhập khẩu, nhưng sau đó thuế nhập khẩu được hoàn trả theo tỷ lệ nguyên vật liệu và phụ tùng được sử dụng trong hàng xuất khẩu.
Tại vòng đàm phán gia nhập WTO, một số thành viên cho rằng, Việt Nam vẫn đang sử dụng các biện pháp trợ cấp bị cấm để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào trong các KCX, bởi vì các lợi ích được gắn với mức xuất khẩu cụ thể từ KCX. Các thành viên yêu cầu Việt Nam loại bỏ tất cả các loại trợ cấp bị cấm ngay khi gia nhập. Việt Nam cũng được đề nghị bảo đảm rằng luật pháp Việt Nam quy định việc bán hàng tại các phần còn lại của lãnh thổ Việt Nam phải bị áp các khoản thuế nội địa và thuế quan đã được miễn.
Đại diện Việt Nam xác nhận kể từ thời điểm gia nhập WTO, Chính phủ Việt Nam sẽ đảm bảo thực thi các nghĩa vụ WTO của mình trong các khu công nghệ cao, KCX, KCN và bất kỳ khu nào khác có các ưu đãi và mục tiêu tương tự. Tất cả trợ cấp trong các khu công nghệ cao, KCN và KCX thuộc phạm vi Điều 3 Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp chống trợ cấp của WTO sẽ được bãi bỏ vào thời điểm gia nhập hoặc trước khi gia nhập và những loại trợ cấp đó sẽ không được tái áp dụng.
Ngoài ra, kể từ thời điểm gia nhập, hàng hóa được sản xuất trong các KCX, KCN hoặc bất kỳ khu nào khác có các ưu đãi sẽ phải tuân thủ các thủ tục hải quan khi được đưa vào tiêu thụ tại thị trường Việt Nam, bao gồm cả việc áp dụng các khoản thuế quan và thuế nội địa.
Nói cách khác, khi các nguyên tắc như nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) và nguyên tắc đãi ngộ quốc gia của WTO phát huy tác dụng, thì những ưu đãi áp dụng cho KCN sẽ bị buộc phải loại bỏ. Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp chế xuất có thể bị đảo lộn đột ngột và những đặc lợi của KCN có thể bị mất đi. Vai trò của các KCN với tư cách là những địa bàn hấp dẫn đầu tư sẽ bị giảm sút do tác dụng điều chỉnh của các nguyên tắc WTO. Đây là yếu tố đang làm giảm dần tính chất hấp dẫn của các KCN. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển tiếp, những ưu đãi này có thể vẫn được tiếp tục duy trì và sức hấp dẫn đầu tư của các KCN vẫn còn ảnh hưởng đến một mức độ nhất định./.