 |
| Việt kiều tại Hàn Quốc nhận giấy miễn thị thực. | Hà Nội (TTXVN) - Năm 2007 được ghi nhận là một năm có sự chuyển biến đáng kể trong công tác về người Việt Nam ở nước ngoài, góp phần rất quan trọng vào sự phát triển ổn định theo hướng hòa nhập vào xã hội nước sở tại và luôn hướng về quê hương của Việt kiều.
Chính sách miễn thị thực cho người Việt ở nước ngoài được triển khai từ 1/9/2007 đã thực sự mang lại hiệu quả trong việc tạo thuận lợi cho kiều bào về nước, làm tăng thêm niềm tin của kiều bào đối với chính sách của Đảng và Nhà nước coi họ là bộ phận không thể tách rời của dân tộc.
Theo số liệu của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, sau bốn tháng thực hiện quyết định miễn thị thực, đã có trên 16.000 Việt kiều đang sinh sống ở khắp các nước trên thế giới được miễn và hàng chục ngàn người khác đang trong quá trình đề nghị.
“Chúng tôi sẽ cố gắng tối đa để đáp ứng nhu cầu này của kiều bào và đây thực sự là nỗ lực rất lớn của các cơ quan chức năng nhằm tiếp tục cụ thể hóa thêm một bước Nghị quyết 36 về người Việt Nam ở nước ngoài”, ôngTrần Trọng Toàn, Phó Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài nói khi trao đổi với phóng viên TTXVN xung quanh vấn đề này.
Bộ Ngoại giao dự đoán, vì quyết định này, số người về quê ăn Tết cổ truyền Mậu Tý sắp tới dự kiến sẽ tăng mạnh và cả năm 2008 số Việt kiều về nước sẽ vượt qua con số nửa triệu người.
Cũng trong năm qua, Ủy ban về Người Việt Nam ở Nước ngoài đã phối hợp với Bộ Xây dựng xúc tiến sửa đổi thủ tục theo hướng mở rộng đối tượng Việt kiều được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
Ông Toàn nhận định, sau mỗi lần sửa đổi, từ Nghị định số 81 và hiện đang là Nghị định số 90, quy định về sở hữu nhà ở đối với Việt kiều lại được cải thiện thêm một bước; và “nếu những dự kiến sửa đổi lần này được thực hiện, việc sở hữu nhà sẽ hầu như không còn sự phân biệt giữa kiều bào và thân nhân trong nước”.
Bên cạnh tạo thuận lợi cho kiều bào về thăm quê và kinh doanh đầu tư, Nhà nước Việt Nam cũng có nhiều động thái tích cực nhằm hỗ trợ kiều bào hội nhập tốt hơn vào nước sở tại.
“Khi đã xác định kiều bào là bộ phận không thể tách rời của dân tộc, là một nhân tố quan trọng thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước khác, thì phải bảo hộ cho họ mà một trong những hình thức bảo hộ quan trọng nhất là giúp họ có được một địa vị pháp lý ở nơi cư trú”, ông Toàn bày tỏ quan điểm.
Bởi trên thực tế, ở nhiều nước phương Tây, Việt kiều đã được công nhận là một cộng đồng sắc tộc nhưng vấn đề này còn gặp khó khăn ở một số khu vực, như Đông Âu chẳng hạn. Việc tồn tại như những cộng đồng nhỏ lẻ sẽ gây nhiều khó khăn cho cuộc sống của kiều bào và khó khăn cho sự phát triển kinh tế-văn hóa, phát triển ngôn ngữ, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc.
Hỗ trợ bằng con đường ngoại giao là giải pháp được lựa chọn, cụ thể là đưa những vấn đề về bảo hộ cộng đồng vào nội dung những chuyến thăm của lãnh đạo Đảng Nhà nước Việt Nam đến các nước có kiều bào sinh sống.
Đề cập đến những khó khăn thách thức trong lĩnh vực này, nhất là việc nhiều nước đang trong quá trình cải cách kinh tế, luật pháp và hệ thống xã hội nên họ siết chặt quản lý cộng đồng nhập cư do, ông Toàn cho rằng, lúc này càng cần sự nỗ lực từ phía Nhà nước để tạo lập địa vị pháp lý cho kiều bào để vừa giúp kiều bào sinh sống làm ăn thuận hơn vừa giúp cho việc quản lý ở các nước sở tại tốt hơn.
Muốn vậy, ông cho biết, Nhà nước Việt Nam đang tiếp tục xúc tiến cam kết với các nước chặn luồng nhập cư bất hợp pháp, ký kết các hiệp định để đưa người đi lao động hợp pháp, những hiệp định bảo hộ lãnh sự, bảo vệ quy chế pháp lý.
Về vấn đề khác cũng đang được cộng đồng người Việt ở nước ngoài đón đợi là vấn đề quốc tịch, ông Toàn cho biết, sau 10 năm thực hiện, năm 2008 Luật quốc tịch dự kiến sẽ được sửa đổi theo hướng cởi mở hơn, cho phép kiều bào có thể mang nhiều quốc tịch, nếu các nước sở tại không hạn chế. Điều này nhằm tạo thuận lợi hơn và bảo vệ quyền lợi của kiều bào trong việc được đối xử bình đẳng, tăng cơ hội làm ăn, hội nhập vào nước sở tại.
Theo thống kê của Bộ Ngoại giao và Bộ Kế hoạch Đầu tư, hiện nay vốn đầu tư trực tiếp của Việt kiều vào Việt Nam đạt khoảng trên 1 tỷ USD, ngoài ra còn một số lượng đầu tư qua người thân chưa thống kê được. Đồng thời, trong năm 2007, người Việt Nam ở nước ngoài cũng chuyển về nước một lượng kiều hối khoảng 5 tỷ USD.
“Tuy vẫn là con số khiêm tốn, vì tiềm lực tài chính của bà con cũng còn chưa mạnh, số người hội nhập được và giàu lên ở nước sở tại là chưa nhiều, nhưng đã thể hiện niềm tin của kiều bào đối với môi trường đầu tư trong nước”, ông Toàn nhận định./. |